|
Trang 4 trong tổng số 5 trang.

MÁU Máu là chất dịch được tim bơm vào các mạch máu để đi đến khắp các bộ phận của cơ thể. Nó là mô liên kết. Theo đúng như tên gọi của nó, mô liên kết là những loại mô kết nối các phần khác nhau của cơ thể lại với nhau để nâng đỡ, chứa đựng và bảo vệ. Mô liên kết được tìm thấy ở khắp nơi trong cơ thể và là loại mô có nhiều nhất trong 4 loại mô của cơ thể (3 loại mô còn lại là: biểu mô, mô cơ và mô thần kinh). Trong tất cả các mô của cơ thể thì máu là loại mô duy nhất tồn tại dưới dạng dịch.
Máu có rất nhiều chức năng trong cơ thể. Nó mang tất cả những vật chất có thể vận chuyển được từ nơi này sang nơi khác trong cơ thể: oxy, chất dinh dưỡng cho các tế bào, hormon (là những chất truyền tin hóa học) đến cho các mô và những chất thải đến cho các cơ quan đảm nhận nhiệm vụ thải chúng ra ngoài khỏi cơ thể. Nó giúp bảo vệ cơ thể bằng cơ chế đông máu và bảo vệ cơ thể khỏi những vi sinh vật lạ. Nó cũng giúp nhiệt độ cơ thể có giá trị không đổi bằng cách lấy nhiệt ra khỏi tế bào.
Nhớt và nặng hơn nước, màu sắc của máu thay đổi từ đỏ tươi sang đỏ đục tùy thuộc vào lượng oxy mà nó đang mang (oxy càng nhiều thì màu sắc càng sáng). Khi ở bên trong cơ thể, máu có nhiệt độ vào khoảng 38°C. Máu chiếm khoảng 8% trọng lượng của cơ thể. Một người nam giới trưởng thành có khoảng 5.6l máu bên trong cơ thể, nữ có khoảng 4.5 lít. Nam có khuynh hướng có nhiều máu hơn nữ do có sự hiện diện của testosterone, là một loại hormon sinh dục nam có tác dụng kích thích sự tạo thành máu.
Máu bao gồm cả thành phần rắn và lỏng. Những thành phần rắn bao gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu nằm lơ lửng trong huyết tương, là một chất dịch giống nước màu vàng nhạt. Các tế bào máu chiếm khoảng 45% máu và huyết tương chiếm 55% còn lại.
HUYẾT TƯƠNG

Huyết tương có 92% là nước. Có trên 100 chất khác nhau tan trong đó, bao gồm chất dinh dưỡng, khí hô hấp, hormon, protein huyết tương, muối và nhiều loại chất thải. Trong số đó, protein huyết tương chiếm tỷ lệ cao nhất. Những loại protein này hầu hết được gan sản xuất ra và có nhiều chức năng khác nhau. Fibrinogen là một loại protein quan trọng giúp đông máu. Albumin giúp giữ nước lại bên trong máu. Gamma globulin là một loại kháng thể giúp bảo vệ cơ thể chống lại những chất lạ.
Muối hiện diện trong huyết tương bao gồm: natri, kali, magne, clo và bicarbonate. Chúng tham gia vào nhiều chức năng quan trọng của cơ thể, bao gồm co cơ, dẫn truyền các xung động thần kinh và điều hòa thăng bằng pH (kiềm-toan) của cơ thể.
HỒNG CẦU
Là loại tế bào có nhiều nhất trong 3 loại tế bào máu. Số lượng của nó vào khoảng 5 triệu tế bào trong mỗi milimet khối máu (1 milimet khối tương đương với một giọt máu rất nhỏ đủ để nhìn thấy được bằng mắt thường). Chức năng chính của nó là vận chuyển oxy từ phổi đến các tế bào của cơ thể. Hồng cầu có cấu trúc hình đĩa phẳng và lõm xuống ở trung tâm, kích thước đó giúp chúng có thể lách vào được các mao mạch nhỏ.
CHARLES DREW và cách bảo quản huyết tương
Charles Drew
Máu có 4 nhóm chính là A, B, O, và AB, đây là khám phá của các nhà nghiên cứu y học vào đầu thế kỷ 20. Khám phá này đã cải thiện đáng kể hiệu quả của việc truyền máu. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, máu toàn thể chỉ có thể giữ được trong vòng 7 ngày trước khi bị hư. Do đó vấn đề làm sao có được đúng loại nhóm máu cần thiết sẵn sàng trong cấp cứu vẫn còn tồn tại.
Vào những năm cuối thập niên 30 của thế kỷ trước, một bác sĩ ngoại khoa người Mỹ, Charles Drew (1904-1950) bắt đầu khám phá ra được khả năng dùng huyết tương để thay thế cho máu toàn thể để truyền. Do huyết tương không có hồng cầu nên nó có thể được truyền cho bất kỳ bệnh nhân nào mà không cần quan tâm đến nhóm máu của họ. Tính chất này của huyết tương làm cho nó trở thành lý tưởng để sử dụng trong cấp cứu.
Khoảng năm 1940, Drew đã phát minh ra được cách xử lý và bảo quản huyết tương bằng cách khử nước của nó do đó nên nó có thể đem đi xa được và bảo quản trong một thời gian dài. Khi cần thiết, huyết tương khô (giống như bột) có thể được tái tạo trở lại dạng ban đầu bằng cách thêm nước vào.
Việc sử dụng huyết tương để truyền máu đã chứng tỏ được vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong suốt thế chiến thứ II (1939-1945), ở thời điểm đó máu dùng để điều trị vết thương bị thiếu hụt trầm trọng. Do nghiên cứu trên, ông đã được tán thưởng vì đã cứu mạng được vô số người.
Ở người lớn, hồng cầu được tạo ra bởi phần tủy đỏ của xương sườn, cột sống, xương ức và xương chậu (tủy xương là một chất tương tự như bọt biển, xốp có trong các khoang bên trong hầu hết các xương của cơ thể). Thành phần cơ bản của hồng cầu là một loại protein sắc tố có tên là hemoglobin. Phân tử hemoglobin chiếm 1/3 trọng lượng mỗi tế bào hồng cầu. Ở phần trung tâm của mỗi phân tử hemoglobin là 1 nguyên tử sắt tạo màu sắc cho hồng cầu. Tại phổi, tế bào sắt kết hợp với oxy để tạo ra một hợp chất có tên là oxyhemoglobin. Chức năng chính của hồng cầu là vận chuyển oxy dưới dạng này đến các tế bào ở khắp cơ thể. Sau khi oxy được trao đổi, hemoglobin kết hợp với CO2 thải ra từ tế bào và hồng cầu quay trở lại phổi để được thải bớt ra.
Do hồng cầu thường xuyên bị ép vào những mao mạch nhỏ li ti nên màng của nó dễ bị hư hại và xói mòn rất nhiều do đó mỗi tế bào hồng cầu chỉ tồn tại trong khoảng 4 tháng. Những tế bào hồng cầu mới được sản xuất liên tục ở tủy xương để thay thế những tế bào cũ.
Hình ảnh hồng cầu chảy qua các mạch máu.
NHÓM MÁU.
Hồng cầu mang những protein được gọi là kháng nguyên, là những chất giúp cơ thể nhận biết những vật lạ xâm nhập, ở màng của mình. Người ta dựa trên những kháng nguyên này để quy định nhóm máu: A, B, AB, hoặc O. Người nhóm máu A có tất cả các tế bào hồng cầu trong cơ thể mang kháng nguyên A. Người nhóm máu B có tất cả các tế bào hồng cầu trong cơ thể mang kháng nguyên B. Người nhóm máu AB có tất cả các tế bào hồng cầu trong cơ thể mang kháng nguyên A và B. Người nhóm máu O có tất cả các tế bào hồng cầu trong cơ thể không mang kháng nguyên nào cả.

Biết được nhóm máu của bệnh nhân là điều rất quan trọng nếu muốn thực hiện truyền máu. Người có nhóm máu A không thể nhận được máu nhóm B vì họ có mang kháng thể chống lại kháng nguyên B. Tương tự, nhóm máu B mang kháng thể chống lại kháng nguyên A. Nhóm máu AB không mang kháng thể chống lại kháng nguyên nào cả, nhưng nhóm máu O thì lại mang kháng thể chống lại cả hai kháng nguyên A và B. Nếu bệnh nhân bị cho lầm nhóm máu thì các tế bào máu sẽ vón cục lại và làm tắc nghẽn những mạch máu nhỏ. Phản ứng này, còn được gọi là phản ứng kết dính, có thể gây tử vong.
Hồng cầu còn có 1 loại kháng nguyên khác được gọi là kháng nguyên Rh (nó có cái tên này do loại kháng nguyên này được xác định lần đầu tiên ở khỉ Rhesus). Hầu hết những người Việt Nam mang nhóm máu Rh dương (Rh+), điều đó có nghĩa là họ có mang kháng nguyên Rh. Những người mang nhóm máu Rh âm (Rh-) thì không mang kháng nguyên Rh. Không giống với nhóm máu ABO, các kháng thể chống lại kháng nguyên Rh không được tìm thấy một cách tự nhiên trong máu. Vấn đề duy nhất chỉ thật sự xảy ra khi người mang nhóm máu Rh- được truyền vào cơ thể máu có Rh+. Khi đó, cơ thể của họ sẽ phản ứng lại bằng cách tạo ra kháng thể chống lại kháng nguyên Rh. Ở lần truyền máu kế tiếp, nếu vẫn tiếp tục được truyền máu có Rh+ thì kháng thể chống lại Rh được tạo ra từ lần truyền máu trước đó sẽ tấn công máu được truyền vào.
BẠCH CẦU
Bạch cầu có rất ít nếu so với hồng cầu, khoảng 4.000 đến 11.000 mỗi millimet khối máu, chiếm ít hơn 1% tổng thể tích máu. Mặc dù chiếm số lượng ít như vậy nhưng bạch cầu lại đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nó giúp cơ thể phòng thủ, chống lại sự tấn công của vi khuẩn, virus, ký sinh trùng và tế bào ung thư. Giống như hồng cầu, bạch cầu cũng được tạo thành từ tủy xương (một số bạch cầu được tạo ra từ các mô lympho). Trong khi hồng cầu phải đi theo dòng chảy của máu thì bạch cầu không như vậy mà nó có thể len qua các vách của các mao mạch để đi thẳng đến những khu vực bị nhiễm trùng hoặc bị tổn thương của cơ thể.
KHÁNG NGUYÊN Rh VÀ THAI KỲ
Yếu tố Rh đóng một vai trò quan trọng trong thai kỳ khi phụ nữ có Rh- đang mang thai đứa bé có Rh+. Trong quá trình mang thai, những vết đứt trên màng nhau giúp mẹ có thể tiếp xúc được với máu của trẻ có Rh+ (màng nhau là 1 loại màng lót tử cung, các chất dinh dưỡng và oxy di chuyển từ mẹ đi xuyên qua màng này để cung cấp cho trẻ), khi đó cơ thể của mẹ sẽ tạo ra kháng thể chống lại kháng nguyên Rh. Ở lần mang thai kế tiếp, nếu con tiếp tục có nhóm máu Rh+ thì kháng thể chống lại Rh của mẹ sẽ đi qua máu của con và tiêu diệt các tế bào hồng cầu của bé.
Để phòng ngừa điều này, bác sĩ sẽ cho những thai phụ có Rh- RhoGAM, một loại kháng thể chống lại Rh trong vòng 72 giờ của lần sinh đầu tiên. RhoGAM sẽ tiêu diệt những hồng cầu Rh+ đi vào hệ tuần hoàn của mẹ trước khi hệ miễn dịch có thời gian tạo ra kháng thể.
Có 5 loại tế bào bạch cầu trong máu: bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophil), bạch cầu ái toan (eosinophil), bạch cầu ái kiềm (basophil), mono bào và lympho bào. Mỗi loại giữ một vai trò khác nhau trong hệ thống phòng thủ của cơ thể và được huy động để chống lại những loại bệnh khác nhau. Chẳng hạn như trong những bệnh nhiễm trùng mạn tính (kéo dài) như lao phổi thì mono bào gia tăng số lượng. Đối với bệnh nhân bị hen suyễn và trong những đợt dị ứng thì bạch cầu ái toan gia tăng số lượng.
Hình ảnh đại thực bào (ở phía sau) và lympho bào (ở phía trước)
Các tế bào bạch cầu xác định được mục tiêu cần đến nhờ những loại hóa chất đặc biệt. Khi mô bị nhiễm trùng hoặc tổn thương, nó sẽ phóng thích những chất hóa học ra các mô xung quanh để lôi kéo những tế bào bạch cầu thích hợp đến chiến đấu chống lại. Tiến trình này được gọi là hóa ứng động.
TIỂU CẦU
Tiểu cầu không phải là một tế bào thật sự giống như hồng cầu và bạch cầu. Chúng là những mảnh vỡ nhỏ có dạng hình đĩa của những tế bào rất lớn được gọi là tế bào nhân khổng lồ (megakaryocyte) nằm trong tủy xương. Tế bào nhân khổng lồ bị vỡ ra tạo thành khoảng 50 mảnh nhỏ hoặc hơn và sau đó nhanh chóng hình thành màng để trở thành tiểu cầu. Có khoảng 300.000 tiểu cầu mỗi millimet khối máu, chúng giúp kiểm soát chảy máu trong một quá trình rất phức tạp được gọi là cân bằng nội môi.
Khi mạch máu bị tổn thương gây chảy máu, các tiểu cầu bắt đầu tiến trình đông máu bằng cách dính vào nơi tổn thương của mạch máu. Trong lúc đó, chúng phóng thích ra những chất hóa học lôi kéo các tiểu cầu khác lại. Chẳng mấy chốc, các tiểu cầu kết dính lại và hình thành một nút chặn tạm thời. Sau đó, tiểu cầu phóng thích ra serotonin, một loại hóa chất làm cho mạch máu co thắt và hẹp lại để làm giảm lượng máu chảy ra bên ngoài qua vết thương. Trong lúc các hiện tượng này xảy ra, mô bị tổn thương phóng thích ra 1 chất kết hợp với calci và những yếu tố đông máu khác trong huyết tương để hình thành chất hoạt hóa prothrombin. Chất hoạt hóa này chuyển dạng prothrombin (là một chất có trong huyết tương do gan sản xuất) thành thrombin (là một loại enzyme). Thrombin sau đó kết hợp với fibrinogen để tạo ra những phân tử dài và mảnh được gọi là fibrin. Các phân tử fibrin kết hợp với nhau hình thành một cái lưới để bắt giữ các hồng cầu và tiểu cầu để làm nền cho khối máu đông.
Related news items:
Newer news items:
Older news items:
|